Skip to main content

Bệnh vàng lá gân xanh (Greening) hại cây có múi

Tóm tắt​

Vàng lá gân xanh (Greening, Huanglongbing) là bệnh nguy hiểm nhất trên cây có múi, do vi khuẩn Candidatus Liberibacter asiaticus sống trong mạch libe gây ra và lây truyền qua rầy chổng cánh Diaphorina citri. Lá vàng lốm đốm không đối xứng hai bên gân chính, lá non nhỏ, mọc thẳng đứng; quả nhỏ, méo, lệch tâm, hạt thối đen. Bệnh hiện chưa có thuốc chữa; cây bệnh suy tàn dần, giảm năng suất và chất lượng rồi chết. Phòng bệnh dựa vào cây giống sạch bệnh và quản lý rầy chổng cánh.

Tác nhân gây bệnh​

  • Tác nhân: Vi khuẩn Candidatus Liberibacter asiaticus (sống trong mạch libe, chưa nuôi cấy được trên môi trường nhân tạo).
  • Phân loại: Vi khuẩn.
  • Đường lây lan: Rầy chổng cánh Diaphorina citri chích hút truyền bệnh; cây giống, mắt ghép từ cây bệnh.
  • Nguồn bệnh tồn tại: Cây có múi bị bệnh trong vườn và vùng lân cận; cây nguyệt quới (Murraya paniculata) là ký chủ của rầy chổng cánh.

Triệu chứng​

  • Lá: Lá vàng lốm đốm, loang lổ, không đối xứng hai bên gân chính; có lá vàng nhưng gân còn xanh; lá non mọc ra nhỏ, hẹp, mọc thẳng đứng như tai thỏ, có thể kèm triệu chứng thiếu kẽm.
  • Quả: Quả nhỏ, méo, lệch tâm; khi chín phần đít quả vẫn còn xanh; tép khô, vị chua đắng; hạt thối đen, lép.
  • Rễ: Bộ rễ suy yếu, rễ tơ thối.
  • Toàn cây: Thường bắt đầu vàng ở một vài cành rồi lan cả cây; cây suy kiệt, cành khô, ra hoa trái vụ, năng suất giảm dần.

Điều kiện phát sinh​

  • Thời tiết: Bệnh lan nhanh khi mật độ rầy chổng cánh cao, thường tăng vào các đợt cây ra đọt non.
  • Thời điểm: Lây nhiễm quanh năm, gắn với các đợt lộc non; triệu chứng có thể xuất hiện sau vài tháng đến hơn 1 năm kể từ khi nhiễm.
  • Canh tác: Dùng cây giống không rõ nguồn gốc; không quản lý rầy chổng cánh; vườn gần vườn bệnh hoặc trồng nguyệt quới gần vườn; cây ra đọt không tập trung.

Phân biệt với bệnh dễ nhầm​

  • Thiếu dinh dưỡng (kẽm, magie, đạm): Triệu chứng vàng đối xứng hai bên gân chính và xuất hiện đồng đều; greening vàng lốm đốm không đối xứng và thường bắt đầu ở một số cành.
  • Vàng lá thối rễ (do nấm Fusarium, Phytophthora): Rễ thối rõ rệt, lá vàng đều; quả không méo, hạt không thối đen như greening.

Biện pháp phòng ngừa​

  • Chỉ trồng cây giống sạch bệnh, có nguồn gốc rõ ràng từ cơ sở được chứng nhận.
  • Quản lý rầy chổng cánh: điều khiển cây ra đọt tập trung, phun phòng rầy khi cây ra đọt non.
  • Trồng cây chắn gió; không trồng nguyệt quới gần vườn cây có múi.
  • Có thể trồng xen ổi theo khuyến cáo địa phương để hạn chế rầy chổng cánh.
  • Thăm vườn thường xuyên, kiểm tra đọt non để phát hiện rầy và cây có triệu chứng.

Biện pháp xử lý​

Canh tác – thủ công​

  • Chưa có thuốc chữa khỏi bệnh: nhổ bỏ và tiêu hủy cây bệnh để loại bỏ nguồn lây; trước khi nhổ cần phun trừ rầy trên cây bệnh để rầy không phát tán sang cây khác.
  • Cây mới nhiễm nhẹ: cắt tỉa cành bệnh, tăng cường dinh dưỡng (phân hữu cơ, vi lượng) để kéo dài thời gian cho quả, đồng thời quản lý chặt rầy.

Sinh học​

  • Bảo vệ thiên địch của rầy chổng cánh (ong ký sinh Tamarixia radiata, bọ rùa, nhện); dùng chế phẩm nấm ký sinh côn trùng có đăng ký để trừ rầy.

Hóa học​

  • Không có thuốc trị vi khuẩn gây bệnh; thuốc hóa học chỉ dùng để trừ rầy chổng cánh (môi giới).
  • Hoạt chất trừ rầy chổng cánh thường được khuyến cáo: imidacloprid, thiamethoxam, abamectin, dầu khoáng (petroleum spray oil); phun khi cây ra đọt non.
  • Chỉ dùng thuốc có trong Danh mục thuốc bảo vệ thực vật được phép sử dụng tại Việt Nam (bản hiện hành); tuân thủ nguyên tắc 4 đúng và liều lượng ghi trên nhãn.

Lưu ý an toàn​

  • Thuốc nhóm neonicotinoid (imidacloprid, thiamethoxam) độc với ong; không phun khi cây đang ra hoa.
  • Luân phiên hoạt chất để hạn chế rầy kháng thuốc.
  • Tuân thủ thời gian cách ly ghi trên nhãn trước khi thu hoạch.

Tài liệu tham khảo​